NGƯỜI TUYẾT
Năm nay rét đậm ở châu Âu
Hoa đăng, NGƯỜI TUYẾT khắp cả châu
Nhưng ở Việt Nam có mới lạ
Tám BẢY CON liền, nó giống nhau
Trông thì to đậm, bụng PHỆ sa
Mặt trông đần thối, nói chẳng ra
Dáng vậy, mà HỒN thì đâu có
Gặp lửa HỒNG, người TUYẾT chảy ra...
* Viết hồi 8:09 AM ngày 23/12/2009 thứ ba, tại 11 PĐC tg Vũ Tản Hồng.
Hôm nay ngày 23/12/2009, bây giờ là 8:31 AM, công ty xổ số đang phát lịch cho đại, tiểu lý đây là đòn đánh vào PTC nhà Sơn ta, mấy năm qua họ ăn tất...Trời hôm nay hửng nắng hàn thử biểu báo 15-21o ấm hơn hôm qua, mình tiếp tục mặc cho bầm áo ấm của Lê Mai Ngọc để lại...MIC đêm hôm qua nằm trông nhà ngoài vườn hoa trước cửa & cổng...
Hôm nay ngày tổng vệ sinh, phát hiện nhiều cái tưởng không thể lại CÓ THỂ như ấm, chén trà của bầm...Lát nữa ra nhà bán mũ xem có cái đẹp mua một cái chơi tết...xong mạnh dạn bóc đi lớp giả da, bên trong lại đẹp hơn nhiều, xin cáo lỗi với hàng mũ nhé... Quảng và Hùng tặng một quyển lịch 2010, cám ơn nhiều...Về bầm MIC nằm đúng chỗ, bầm vui vẻ vì trời ấm lên, ra trao đổi với Tháp và Trung về lịch và sự đổi mới của 2010 đúng là năm Thăng Long ngàn năm tuổi...
Bên 51 Nguyễn Thái Học Giang đang nghỉ phép, chắc là Sơn chuẩn bị có QĐ sang PTC, như vậy hôm qua 22/12/09 như đã làm trước năm nay không họp mặt quân nhân. 9:30 một anh bạn nào đó hỏi...bao giờ chợ Nghệ xây xong, mình trả lời Vinaconec 21 chưa bàn giao...Hai bạn Châu, Dực vào chào và đánh Oto đi chơi...
Gặp rối vì mua nhà của người mắc nợ
Nhà đã mua nhưng lại bị phong tỏa để bảo đảm thi hành án cho người bán.Tiền bảo đảm bao nhiêu thì vừa?
TAND TP.HCM vừa hủy một bản án sơ thẩm của TAND quận 11 do việc chứng minh, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ. Trong vụ này, cấp sơ thẩm đã chấp nhận một văn bản có chữ ký giả mạo để làm căn cứ xét xử.
Bị giả chữ ký
Tháng 4-2008, bà M. đặt cọc hơn 5 tỉ đồng để mua hai căn nhà ở quận 11, TP.HCM của ông C. với giá 7 tỉ đồng. Sau khi hoàn tất các giấy tờ liên quan, hai căn nhà trên đã được đăng bộ với tên bà M.
Bảy tháng sau, bà M. bất ngờ nhận được giấy triệu tập của Tòa án quận 11 yêu cầu bà cung cấp hợp đồng mua bán hai căn nhà trên. Trước đó tòa xác định bà là người có liên quan trong vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa ông C. và hai chủ nợ.
Đến tòa, bà M. được tòa cho xem một biên bản thỏa thuận có chữ ký của bà với cam kết sẽ giúp ông C. làm thủ tục vay ngân hàng để ông này trả nợ cho hai nguyên đơn 2 tỉ đồng.
Cho rằng đây là giấy tờ giả mạo, bà yêu cầu tòa trưng cầu giám định chữ ký. Tuy nhiên, trong một lần hòa giải sau đó, cả hai chủ nợ của ông C. đều khai chữ ký trên không phải của bà M. nên tòa không trưng cầu giám định chữ ký nữa.
Tại phiên sơ thẩm, dù không thừa nhận nợ nần nhưng ông C. khai chữ ký trong biên bản thỏa thuận trên là của mình. Từ đó, tòa đã xem biên bản thỏa thuận này là hợp đồng vay nợ giữa ông C. với hai chủ nợ và buộc ông phải trả cho mỗi người 1 tỉ đồng.
Bị mất nhà
Riêng bà M. chưa kịp mừng vì được minh oan là không có ký kết cam đoan gì thì lại vướng vào một rắc rối khác. Trong vụ án, hai chủ nợ của ông C. cũng đã yêu cầu tòa hủy hợp đồng mua bán nhà giữa ông C. và bà M. Chuyện này tòa nhận định, hợp đồng mua bán một trong hai căn nhà qua công chứng chỉ ghi giá 400 triệu đồng, không phù hợp với giá trị thật (dù bà M. có đầy đủ giấy tờ chứng minh ông C. đã nhận đủ 7 tỉ đồng cho hai căn nhà). Đây là hợp đồng giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ của ông C. nên vô hiệu. Từ đó tòa đồng ý duy trì quyết định khẩn cấp tạm thời phong tỏa một trong hai căn trên để đảm bảo thi hành án. Phía nguyên đơn đã đóng 200 triệu đồng tiền bảo đảm cho yêu cầu này.
Bà M. kháng cáo cho rằng bản án sơ thẩm đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bà bởi bà hoàn toàn không liên quan đến các món nợ của ông C. Bà đã mua nhà ngay tình, không có sự gian dối nào nên đây là tài sản của bà. Tòa hủy hợp đồng mua bán của bà là sai sót phải bị xem xét lại. Chưa kể, căn nhà này bà sở hữu hợp pháp, tòa ra quyết định phong tỏa nhà của bà để đảm bảo cho chuyện thi hành án của ông C. trước khi tòa đem vụ án ra xét xử là sai sót rất nghiêm trọng.
Trong phiên phúc thẩm mới đây, Tòa án TP nhận định cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào chứng cứ duy nhất là biên bản thỏa thuận để buộc ông C. trả nợ trong khi những nội dung khác chưa được điều tra, thu thập đầy đủ là thiếu căn cứ, không đảm bảo được các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Cuối cùng tòa tuyên, do việc chứng minh và thu thập chứng cứ của cấp sơ thẩm chưa được thực hiện đầy đủ mà tòa phúc thẩm không thể bổ sung được nên tòa hủy án, giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết lại... Những yêu cầu kháng cáo khác của bà M. cũng sẽ được xem xét khi vụ án được giải quyết lại từ đầu!
Tiền bảo đảm bao nhiêu thì vừa?
Trong vụ này có một vấn đề pháp lý khác cũng được các chuyên gia quan tâm. Nhiều ý kiến cho rằng tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu áp dụng biện pháp phong tỏa nhà nhưng chỉ buộc nguyên đơn đóng 200 triệu đồng tiền bảo đảm là vi phạm Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Khoản 1 Điều 120 BLTTDS quy định người yêu cầu tòa án áp dụng một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do tòa án ấn định nhưng phải tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền yêu cầu. Trở lại vụ án, số tiền 200 triệu đồng bảo đảm trên so với khoản nợ của ông C. với các nguyên đơn thì chẳng thấm vào đâu!
THANH LƯU
Vài nét lịch sử về cây Noel
VietCatholic News (22 Dec 2009 09:50)
Từ 27 năm nay, các miền khác nhau của nước Italia và của Âu Châu đã thay phiên nhau dâng tặng cây Noel cho Đức Thánh Cha. Được biết Cây Noel năm nay là một loại thông có nguồn gốc từ khu rừng Ardenne, tỉnh Liegi vương quốc Bỉ. Tuổi của nó là hơn 90 năm, chiều cao 30 mét và đường kính của tán lá 7 mét, do vương quốc Bỉ kính tặng Tòa Thánh Vatican. Sau 4 ngày các nghệ nhân, công nhân vận chuyển, dựng lên và trang trí, tối ngày 18 tháng 12 năm 2009, những ngọn đèn điện trên cây Noel tại trung tâm Quảng Trường Thánh Phêrô đã được thắp sáng lung linh. Nhiều khách hành hương đã phải chờ đợi để tận mắt chiêm ngắm Cây Noel này.
Cùng với cây Noel là một hang Belem lớn được làm ngay tại chân cột tháp Obelisco trước Đền Thánh Phêrô. Hang Belem này sẽ mở màn từ ngày 24 tháng 12 đến ngày 2 tháng 2. Đây là nét văn hóa tôn giáo đẹp đẽ đã có từ năm 1982, thời Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Thực ra truyền thống này đã khởi nguồn từ rất xa xưa khi thánh Phanxicô Assisi vào năm 1223 đã làm để diễn tả Mầu Nhiệm Belem. Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI đã theo truyền thống này và Ngài đã nhấn mạnh và xác nhận ý nghĩa giá trị của việc làm hang Belem và cây Noel không chỉ là diễn tả các yếu tố tinh thần tôn giáo mà còn cả các yếu tố văn hóa và nghệ thuật.
Sau dịp Giáng Sinh, cây Noel sẽ được hạ xuống. Phần gỗ sẽ được trao cho các nghệ nhân để chế tác thành những sản phẩm văn hóa và nghệ thuật. Các sản phẩm này sẽ được bán và số tiền thu được Tòa Thánh sẽ đem giúp đỡ những người nghèo. (x.VietCatholic News 20 Dec 2009, Lm. Thiện Tĩnh).
Theo truyền thuyết, ngay từ 2000 đến 1200 trước Công nguyên đã có tục lệ trưng bày cây thông épicéa vào ngày 24 tháng 12, bởi vì người ta xem như ngày này là ngày tái sinh của Mặt trời. Trước đây, người Đông Âu (Celtes) dùng lịch theo chu kì Mặt trăng. Mỗi tháng của năm đều liên kết với một loại cây. Ngày 24 tháng 12 nhắm tiết Đông chí được đặt tên là tùng bách (épicéa). Để làm lễ cho ngày Đông chí, một cây xanh tượng trưng cho sự sống được trang trí bởi trái, hoa và lúa mì.
Năm 354, Giáo hội Công giáo định lễ Giáng Sinh được cử hành ngày 25 tháng 12. Theo dòng thời thời gian cây Noel có một lịch sử hình thành và đến nay nó đã trở thành thân quen mỗi dịp Giáng Sinh về.
Người ta kể lại rằng: thánh đan sĩ Boniface (sinh năm 680) đã phá tục thờ cây cối. Ngài thuyết phục các đạo sĩ người Đức ở vùng Geismar là cây sồi không phải là cây thiêng. Ngài cho hạ một cây sồi. Khi đốn cây, sồi lăn xuống triệt hạ các cây mọc trên triền dốc, chỉ trừ cây thông. Thánh Boniface coi đó là điềm lạ, nên đã thuyết giảng rằng: ‘‘Kể từ nay, ta đặt tên cho cây thông là cây Chúa Hài Đồng’’. Từ đó, người ta trồng cây thông trên khắp nước Đức để mừng lễ Giáng Sinh.
Đến thế kỷ thứ XI, cây Noel được trang hoàng bằng những trái pom đỏ, tượng trưng cho cây thiên đàng. Trên đó người ta treo trái pomme của bà Eva.
Từ thế kỷ thứ XII, cây sapin được xuất hiện tại Âu Châu, vùng Alsace. Người ta gọi “Cây Noel” lần đầu tiên tại Alsace vào năm 1521.
Thế kỷ thứ XIV, người ta trang trí cây thông bằng những trái pomme của bà Eva, kẹo và bánh. Cũng vào thời kì đó, một ngôi sao trên đỉnh cây tượng trưng cho ngôi sao Bethleem bắt đầu được phổ biến. Năm 1560 những người theo đạo Tin Lành phát trển truyền thống cây Noel.
Thế kỷ XII và XIII, các cây sapin chiếu sáng đầu tiên xuất hiện. Người ta dùng những vỏ trái hồ đào (noix) đựng đầy dầu, trên mặt để tim đèn, hay đèn sáp mềm, cột quanh cây thông.
Năm 1738, Marie Leszcynska, vợ vua Louis XV nước Pháp, đã trang hoàng một cây Noel trong lâu đài Versailles.
Tại Alsace-Lorraine, người ta thấy càng ngày càng nhiều cây sapin, nơi đầu tiên có truyền thống này.
Các nước Thuỵ Điển, Đan Mạch, Na Uy thường trang hoàng nhà cửa cây xanh nhân dịp năm mới để xua đuổi ma quỷ. Họ còn dựng cây cho chim trú ngụ trong mùa Giáng Sinh.
Năm 1837, bà công tước Orléans, Hélène de Mecklembourg, gốc người Đức cho người trang hoàng một cây sapin tại điện Tuileries.
Làm lễ Giáng Sinh quanh một cái cây, biểu tượng cho cây trên Thiên Đàng và đủ loại kẹo đã trở thành một truyền thống nhanh chóng bên Đức. Phải chờ đến gần một thế kỷ để truyền thống đó đến mọi gia đình người Pháp, nhất là sau chiến tranh 1870, có hàng ngàn gia đình người Alsace-Lorraine di cư qua Pháp. Chính nhờ thời kì đó mà cả nước Pháp thu nhập truyền thống này.
Đầu thế kỷ thứ 19, Cây Noel được nhập vào nước Anh từ từ và rất được tán thưởng, nhờ ông hoàng Albert, chồng của Nữ hoàng Victoria. Vào thời đó, người ta gọi cây Noel là cây Victorian Tree. Cây Victorian Tree được trang trí bằng đèn sáp, kẹo cùng các thứ bánh treo ở cành cây bằng dây giấy đủ màu.
Cây Noel được thịnh hành nhất vào thế kỉ thứ 19. Cây Noel cũng được những nước Áo, Thuỵ Sỹ, Phần Lan, Hoà Lan tán thưởng trong thời kì này. Hiện nay khắp nơi trên thế giới đều tổ chức lễ Giáng Sinh và chưng cây Noel.
Tương truyền về thánh Boniface kể rằng, một hôm trên đường hành hương, Ngài tình cờ bắt gặp một nhóm những kẻ ngoại đạo sùng bái đang tập trung xunh quanh một cây sồi lớn, dùng một đứa trẻ để tế thần. Để dừng buổi tế thần và cứu đứa trẻ, thánh nhân hạ gục cây sồi chỉ bằng một quả một quả đấm! Tại nơi đó đã mọc lên một cây thông nhỏ. Vị thánh nói với những kẻ ngoại đạo rằng cây thông nhỏ là cây của sự sống và nó tượng trưng cho cuộc sống vĩnh hằng của Chúa Cứu Thế.
Tương truyền, một lần Martin Luther, người sáng lập đạo Tin Lành dạo bước qua những cánh rừng vào một đêm Noel khoảng năm 1500. Trời quang và lạnh. Hàng triệu vì sao lấp lánh qua kẻ lá.Ông thực sự ngỡ ngàng trước một loài cây nhỏ, trên cành cây tuyết trắng phủ đầy, lung linh dưới ánh trăng.Cảnh vật hôm đó đã làm Luther thực sự rung động. Vì thế, khi trở về ông đã đặt một cây thông nhỏ trong nhà và kể lại câu chuyện này với lũ trẻ. Để tái tạo ánh lấp lánh của muôn ngàn ánh sao, ông đã treo nến trên cành cây thông và thắp sáng những ngọn nến ấy với lòng tôn kính ngày Chúa Giáng Sinh.
Một truyền thuyết khác lại kể rằng vào một đêm Noel đã rất lâu rồi, có một người tiều phu đang trên đường trở về nhà thì gặp một đứa trẻ bị lạc và lả đi mặc dù nghèo khó nhưng người tiều phu đã dành lại cho đứa trẻ chút thức ăn ít ỏi của mình và che chở cho nó yên giấc qua đêm. Buổi sáng khi thức dậy, ông nhìn thấy một cái cây đẹp lộng lẫy ngoài cửa. Hóa ra đứa trẻ đói khát tối hôm trước chính là Chúa cải trang. Chúa đã tạo ra cây để thưởng cho lòng nhân đức của người tiểu phu tốt bụng.
Nguồn gốc thực của cây Noel có thể gắn liền với những vở kịch thiên đường. Vào thời thượng cổ, những vở kịch đạo đức được biểu diễn khắp Châu Âu, thông qua các vở kịch ấy người ta có thể truyền bá các bài Kinh Thánh. Những vở kịch nói về nguồn gốc của loài người và sự dại dột của Adam và Eva tại vườn Eden, thường được diễn vào ngày 24 tháng 12 hằng năm. Cây táo là một đạo cụ trong vở kịch, nhưng vì các vở kịch được diễn vào mùa đông, các loài cây đều chưa kết trái nên các diễn viên phải treo các quả táo giả lên cành cây.
Phong tục cây Noel trở nên phổ biến ở Đức vào thế kỉ XVI. Người theo Kitô giáo mang cây xanh vào trong nhà và trang hoàng cho chúng trong dịp lễ Giáng Sinh.
Ở những vùng vắng bóng cây xanh, mọi người tạo ra các đồ vật hình chóp từ gỗ và trang trí cho nó các cành cây xanh và nến. Chẳng bao lâu sau, phong tục cây Noel trở nên phổ biến ở các nước Châu Âu.
Theo một truyền thống của nước Mỹ, một cuộc vui tổ chức xung quanh cây Giáng Sinhvào một đêm lạnh lẽo ở Trenton, New Jersey trong thời gian nội chiến đã làm thay đổi cục diện cuộc chiến.
Những người lính phe liên bang quá nhớ nhà, nhớ những ngọn nến được thắp sáng treo trên các cành cây Thông Giáng Sinh, đã bỏ nơi gác để ăn uống vui vẻ. Washington đã tấn công và đánh bại họ trong đêm đó.
Vào giữa thế kỷ XIX, hoàng tử Albert chồng tương lai của nữ hoàng Victoria ra đời. Chính ông đã phổ biến rộng rãi cây Giáng Sinh vào nước Anh. Năm 1841, đôi vợ chồng hoàng gia này đã trang hoàng cây Giáng Sinh đầu tiên của nước Anh tại lâu đài Windon bằng nến cùng với rất nhiều laọi kẹo, hoa quả và bánh mì gừng. Khi cây Giáng Sinh trở thành thời thượng ở Anh thì những gia đình giàu có đã dùng tất cả những đồ vật quý giá để trang trí cho nó. Vào những năm 1850, theo sự mô tả của đại văn hào Charles Dickens thì cây Giáng Sinh ở Anh được trang hoàng bằng búp bê, những vật dụng nhỏ bé, các thiết bị âm nhạc, đồ trang sức, súng và gươm đồ chơi, hoa quả và bánh kẹo. Sau khi đã tồn tại ở Anh thì phong tục cây Noel cũng trở nên phổ biến trên khắp các vùng thuộc địa của đế chế Anh, tới cả những vùng đất mới như Canada.
Cây Noel đầu tiên được dân chúng ở Mỹ biết đến là vào những năm 1830. Khi hầu hết người dân Mỹ coi cây Giáng Sinh là một điều kì cục thì những người Đức nhập cư ở Pennsylvania thường mang cây Giáng Sinh vào các buổi biểu diễn nhăm tăng thêm tiền quyên góp cho nhà thờ. Năm 1851, một mục sư người Đức đặt một cây Giáng Sinh trước cửa nhà thờ của ông làm cho những người dân xứ đạo ở đó đã bị xúc phạm và buộc ông phải hạ nó xuống. Họ cảm thấy đó là một phong tục ngoại đạo.
Tuy nhiên, vào những năm 1890, nhiều đồ trang trí bắt đầu được nhập từ Đức vào và từ đó tục lệ về cây Giáng Sinh trở nên phổ biến ở Canada và Mỹ. Có một sự khác biệt lớn giữa cây Giáng Sinh của Châu Âu và Bắc Mỹ. Cây của Châu Âu nhỏ, hiếm khi cao hơn 1,5 mét chỉ khoảng 4 -5 feet trong khi cây của Bắc Mỹ cao tới trần nhà.
Năm 1900, cứ 5 gia đình ở Bắc Mỹ thì có một gia đình có cây Giáng Sinh, và hai mươi năm sau phong tục này trở nên khá phổ biến. Vào những năm đầu thế kỉ XX, người dân Bắc Mỹ thường trang trí cây thông bằng đồ trang trí do chính tay họ làm ra. Đồ trang trí truyền thống của người Canada và người Mỹ gốc Đức gồm có quả hạnh nhân, quả hạch, bánh hạnh nhân với nhiều hình dạng thú vị khác nhau. Những hạt bắp chiên nhiều màu sắc, được trang trí cùng những quả phúc bồn tử và các chuỗi hạt. Cũng vào thời gian này bắt đầu xuất hiện những dây đèn trang trí trên cây Giáng Sinh, nhờ nó cây thông rực rỡ hơn nhiều lần. Ánh sáng trang trí bằng đèn điện kéo dài hơn và an toàn hơn rất nhiều so với ánh sáng toả ra từ những ngọn nến.
Mỗi năm khi ngày Giáng Sinh tới, một cây Noel lộng lẫy được đặt tại quảng trường trung tâm Bentall thành phố Vancouver, phía nam British Columbia. Và dân chúng tập trung xung quanh cây Noel đầu tiên vừa được dựng lên và chưa được trang hoàng lộng lẫy kia. Rồi ở cuối thành phố cây thông sáng bỗng bừng lên với muôn vàn ánh đèn đầy màu sắc, cùng lúc đó đội hợp xướng nhà thờ ca vang bài hát mừng lễ Giáng Sinh. Tại ngọn đồi Parliament ở Ottawa, một cây Noel rực rỡ ánh đèn màu được đặt cạnh ngọn đuốc thế kỷ của Cananda cùng với âm vị ngọt ngào của giai điệu Giáng Sinh tuyệt vời từ tháp hoà bình Carillon vang đến (theo thánh nhạc ngày nay số 52).
Trong giờ đọc kinh truyền tin Chúa nhật 19.12.2004, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã diễn giải ý nghĩa cây Noel: ‘‘Ta thường trưng bày bên cạnh máng cỏ một cây thông Giáng sinh, vốn là truyền thống tốt đẹp lâu đời nhằm ngợi ca cuộc sống. Vào mùa đông rét mướt, cây thông vẫn xanh tươi để nói rằng cuộc sống không bao giờ bị hủy diệt. Các quà tặng Giáng sinh được bày dưới gốc cây. Biểu tượng này muốn nói rằng cây Giáng sinh là cây nhân sinh mang hình ảnh Đức Kitô. Đây chính là món quà Thiên Chúa ban cho nhân trần. Thông điệp về cây thông Giáng sinh còn mang ý nghĩa cuộc sống xanh tươi như tặng vật của tình bạn và lòng yêu thương, là sự tương trợ huynh đệ và sự tha thứ, là sự chia sẻ và lắng nghe tha nhân”.
Giáng Sinh đã trở thành một đại lễ của nhân loại. Dù tin hay không tin vào Chúa Giêsu, mọi người đều hân hoan đón đợi và vui tươi mừng lễ.
Giáng Sinh có lẽ là ngày hội lớn duy nhất trên trái đất được đón mừng bởi mọi quốc gia, mọi sắc tộc, mọi tầng lớp xã hội. Từ núi cao, trong rừng sâu, xuống đồng bằng, vào thị tứ giầu sang….Qua đủ mọi hình thức: Hang đá máng cỏ, cây Noel, nhóm vài cây củi trên rừng, thắp ngọn nến đơn sơ trong ngôi nhà thờ bé nhỏ nghèo nàn vùng quê hẻo lánh, hay trăm ngàn ánh đèn muôn mầu rực rỡ chốn đô hội văn minh tráng lệ, khắp nơi đón mừng và cùng hát lên tâm tình:
"Vinh danh Thiên Chúa trên trời.
Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương" (Lc 2,14).
Giáng sinh đang về trên khắp mọi nơi trần thế.Hang Đá Máng Cỏ, Cây Noel đã trở nên một nét đẹp của “lễ hội văn hóa Giáng Sinh”. Bình an và niềm vui tràn đầy trong tâm hồn mỗi người.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP, ÔNG THÀY DẠY SỬ
Dương Trung Quốc
-Bách khoa toàn thư của Mỹ khi nói về quân hàm của Ông luôn viết rằng: Võ Nguyên Giáp là “Đại tướng 5 sao” để nói đến một phẩm hàm tột đỉnh, mặc dù trên vai Ông luôn luôn là quân hàm mang 4 ngôi sao 5 cánh như nhiều vị đại tuớng Việt Nam khác. Giới sử học VN tự hào có một vị Tổng tư lệnh là Chủ tịch Hội nghề nghiệp của mình.
Lúc còn trẻ, tôi được xem bộ phim “Ngôi sao thành Êghe”, trong đó có hình ảnh một nhà chép sử dũng cảm và tận tuỵ đứng giữa bãi chiến trường khốc liệt để ghi chép lại những gì đang diễn ra. Quân tướng hai bên giáp lá cà chém giết lẫn nhau, nhưng dường như vẫn né mũi gươm đường đạn để nhà chép sử làm bổn phận của mình… Chính hình ảnh ấy gây cho tôi lòng hào hứng dấn thân vào nghề rồi thành cái nghiệp sử học cho đến nay vẫn đeo đuổi.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Và cái hình ảnh người chép sử ấy cho đến nay luôn đến với tôi mỗi khi có dịp gặp “Anh Văn” - Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Tôi chỉ có cơ hội gặp Ông kể từ khi vị Đại tướng của chúng ta đảm nhận những trách nhiệm dân sự. Ông là Phó Thủ tướng phụ trách công tác Văn hoá và Khoa học Kỹ thuật. Lần đầu tôi được gần Ông là thời điểm chuẩn bị cho chuyến đi thăm Ấn Độ của một đoàn đại biểu Việt Nam do Đại tướng dẫn đầu. Tôi được cơ quan Viện Sử học phân công làm công tác tư liệu cho bài diễn văn của Ông.
Đối với tôi, đó là một vinh dự lớn vì truớc đó, Ông còn là một hình ảnh ở rất cao cao và quá xa xa… Nhưng khoảng cách đó nhanh chóng thu hẹp chính nhờ sự cúi xuống của một Ông Thầy đối với một học trò nhỏ. Ông cho phép tôi nhập vai để viết thử một bài diễn văn. Rồi Ông có những lời động viên vừa phải. Đương nhiên, tôi chẳng góp được bao nhiêu nhưng lại học được rất nhiều điều ở Ông. Trong chuyến đi Ấn Độ ấy, tôi nhớ Ông có một bài phát biểu rất hay về Bác Hồ...
Kể từ khi tôi tham gia công tác của Hội Sử học VN, tôi càng có nhiều cơ hội gặp Ông và càng bị Ông cuốn hút không phải chỉ ở một sự nghiệp quá đồ sộ của một nhà cách mạng, một vị Tổng tư lệnh mà còn ở một phẩm cách của một nhà sử học lớn. Ông kể cho tôi một đôi ký ức thời trai trẻ rồi đọc thuộc lòng.những vần thơ hừng hực chí khí yêu nước của Phan Bội Châu.
Ông kể lại những kỷ niệm về các nhân vật lịch sử mà ông từng tiếp xúc như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Trần Huy Liệu, ông đọc thuộc từng bài trong sách giáo khoa thư đã nhen nhóm trong lòng Ông những bài học đầu tiên dạy làm người và lòng yêu nước. Rồi những bài học lịch sử trên bục giảng ở trường tư thục Thăng Long…
Ông muốn nói rằng, lịch sử là tri thức tạo nên tư cách của một con người có ý thức về xã hội. Năm 1998, ông cho phép tôi được có mặt trong buổi Ông cùng gia đình tiếp con trai cố Tổng thống Mỹ J.Kennedy. Hôm đó tôi thực sự nhận ra phong cách của một ông thầy dạy sử.
Chậm rãi và mạch lạc, Ông nói với anh bạn trẻ mà tuổi tác cách Ông đúng một nửa thế kỷ về lịch sử mối quan hệ Việt - Mỹ. Ông nói về những mối giao lưu đầu tiên giữa hai xứ sở cách nhau một đaị dương, mà vị Tổng thống Hoa Kỳ từng là người khởi thảo Tuyên ngôn Độc lập Mỹ đã say mê các giống lúa ở Đàng Trong của Đại Việt, đến mối quan hệ Việt - Mỹ khi còn là đồng minh chống phát xít Nhật.
Ông chỉ tấm ảnh chụp chung với Bác Hồ treo trên tường nhà mình mà nói rằng: “Tấm ảnh kia mấy người bạn đồng minh Mỹ chụp cho tôi”… Hàm ý vị Đại tướng đánh bại quân xâm lược Mỹ muốn nói với những người Mỹ trẻ tuổi rằng, quan hệ giữa hai nước không chỉ có những trang sử đen tối của chiến tranh, và trang sử đang được viết tiếp phải là những trang sử tốt đẹp như một thời là Đồng minh cùng chung sức đánh phát xít mà chính ông là “người trong cuộc”.
Anh con trai của cố Tổng thống Kennedy rất cảm động khi nghe vị Đại tướng gợi lại hình ảnh khi cậu ta mới 4 tuổi đã dự đám tang cha của mình bị ám sát, và anh ta nói rằng, những gì nhận được sau chuyến đi thăm VN và đặc biệt là trong buổi gặp Đại tướng sẽ rất có ích cho bước đường sắp tới khi anh ta dự định bắt đầu bước vào chính truờng…(Rất tiếc, không lâu sau, anh đã chết trong một tai nạn máy bay).
Tôi cũng được quan sát từ khoảng cách rất gần 2 cuộc tiếp kiến giữa Đại tướng với Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namara ở Hà Nội (1995 và 1997). Chính ông đã khéo léo bố trí để tôi có mặt trong những cuộc tiếp xúc còn rất hẹp này... Tính thuyết phục của vị Đại tướng Việt Nam đối với một nhân vật mà nước Mỹ từng tôn sùng là một “bộ óc điện tử” chính là trọng lượng của những bằng chứng lịch sử đanh thép và thấm thía. Ông không quên từng chi tiết nhưng luôn đặt mọi lý lẽ của mình khớp với những gì lịch sử đã lên tiếng.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Cố Bộ trưởng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namara. Ảnh AFP
Khi nói chuyện với chúng tôi, những người làm công tác sử học hay đặc biệt là với giới trẻ, Ông rất hay nhắc đến câu diễn ca mộc mạc của Bác Hồ: Dân ta phải biết sử ta…”.
Ông kể rằng, đứng trước khả năng phải bắt buộc cầm súng đánh thực dân, Bác Hồ sai người đi tìm cuốn “Việt Nam sử lược” của Lệ thần Trần Trọng Kim, khi đó là cuốn sách duy nhất biên soạn mạch lạc về lịch sử nước nhà để cho trao các vị lãnh đạo cuộc kháng chiến đọc. Không chỉ chí khí của người xưa, mà nhiều bài học về cách đánh và cách thắng của ông cha chúng ta đem lại những tri thức rất bổ ích cho cuộc chiến đấu ở thế kỷ XX.
Chắc chắn, Võ Nguyên Giáp sẽ là người giật giải quán quân về viết hồi ức lịch sử. Khác với nhiều nhà hoạt động cách mạng khác, khi buông dần những công việc chính trường, Ông thực sự giành tâm lực cho việc tổng kết lịch sử và lấy chính trải nghiệm của mình để tìm ra những bài học.
Không kể tới những công trình chính luận đóng góp vào tổng kết sự nghiệp cách mạng mà Ông là một yếu nhân, đặc biệt là tổng kết chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc mà Ông là Tổng tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp giành rất nhiều công sức để viết hồi ức của mình, điều mà mọi chính khách hiện đại đều làm. Nhưng khác mọi người, Ông viết hồi ức với tất cả các tình tiết riêng tư, kể cả những rung động tình cảm của mình nhưng lại để nói đến cả một dân tộc, một thời đại và một con người mà Ông luôn coi là người Thầy vĩ đại của mình: Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Viết lịch sử hay hồi ức Ông đều luôn đặt lên hàng đầu tính trung thực. Ông có cả một “bộ tham mưu” là những người hoạt động khoa học và thực tiễn trong và ngoài quân đội sẵn sàng tham góp ý kiến, sưu tập tư liệu cho Ông. Một tinh thần tập thể cao cộng với một trí tuệ lớn lại luôn cầu thị của Ông làm cho các tác phẩm ký tên Ông trở thành những công trình hoàn chỉnh và có phong cách không trộn lẫn.
Viết sử, Ông luôn luôn lấy sự đoàn kết là mục tiêu như chính trong thực tiễn cách mang. Tôi không quên một kỷ niêm: những chương đầu của cuốn sách “Tổng hành dinh…” được Ông cho phép đăng trên Tạp chí Xưa Nay của Hội Sử học VN (1995) trước khi sách công bố 5 năm.
Ở chương kết thúc, Ông điểm không thiếu một ai đã tham gia vào sự kiện lớn của lịch sử. Ông rất hài lòng khi chúng tôi chọn một tấm ảnh minh hoạ là lúc Tổng Tư lệnh chia tay Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng lên đường vào chiến trường. Hình ảnh hai vị tướng thân mật đứng bên một cây đào đang nở hoa làm Ông rất hài lòng.
Sau này khi sách in, Ông cũng tìm đúng tấm ảnh ấy dường như muốn nói lên một điều gì đó…Tấm ảnh Ông và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh ngồi trước tấm bản đồ trải rộng dưới đất trong căn phòng nhà mình để cùng nhau trao đổi ý kiến cũng được Ông tâm đắc dùng trong sách...
“Từ nhân dân mà ra”, “Những năm tháng không thể nào quên”,”Chiến đấu giữa vòng vây”. “Điểm hẹn Điện Biên”… cho đến “Tổng hành dinh trong Mùa Xuân đại thắng” là gần trọn vẹn cả đời Ông. Từ Điện Biên (1954) đến Đại thắng Mùa Xuân (1975) còn một khoảng trống mà Ông sẽ phải lấp đầy.
Cộng với những tác phẩm mang tính tổng kết về Chiến thắng Điện Biên Phủ và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một tác gia kiệt xuất đã để lại một di sản thực sự là đồ sộ về thế kỷ XX hào hùng đầy thử thách. Nếu nói Ông là một trong những nhà sử học lớn nhất của thế kỷ XX là hoàn toàn xác đáng. Và với những trước tác của mình, Ông hoàn toàn xứng đáng nhận được Giải thưởng Hồ Chí Minh cả trên lĩnh vực sử học, văn học hay lý luận quân sự (nhưng đang tiếc lại chưa thành hiện thực ?).
Người nước ngoài khi đánh giá về Đại tướng Võ Nguyên Giáp thường so sánh Ông với những nhân vật lớn trong lịch sử nhân loại, đặc biệt là lịch sử chiến tranh. Họ có sự tinh tế mà ít khi ta chú ý tới, ví như Bách khoa toàn thư của Mỹ khi nói về quân hàm của Ông luôn viết rằng Võ Nguyên Giáp là “Đại tướng 5 sao” để nói đến một phẩm hàm tột đỉnh, mặc dù trên vai Ông luôn luôn là quân hàm mang 4 ngôi sao 5 cánh như nhiều vị đại tuớng Việt Nam khác. Giới sử học VN tự hào có một vị Tổng tư lệnh là Chủ tịch Hội nghề nghiệp của mình.
Dương Trung Quốc
Nguồn http://www.baomoi.com/Home/DoiNoi-DoiNgoai/bee.net.vn/Dai-tuong-Vo-Nguyen-Giap-ong-thay-day-su/3648575.epi
Thứ 4 ngày 23/12/2009
Đà Lạt được công nhận là thành phố Festival Hoa
23/12/2009 14:14
Hoa Đà Lạt - Ảnh Chinhphu.vn
Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã ký văn bản công nhận danh hiệu thành phố Festival Hoa cho thành phố Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng), nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.
Phó Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Lâm Đồng phối hợp chặt chẽ với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các cơ quan liên quan tổ chức tốt Festival Hoa Đà Lạt 2010 theo đúng Chương trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 795/QĐ-TTg ngày 10/06/2009.
Thông tin từ UBND TP Đà Lạt cho biết, hiện công tác chuẩn bị cho Lễ hội Festival Hoa Đà Lạt 2010 đang được triển khai gấp rút. Với chủ đề: “Đà Lạt - thành phố ngàn hoa”, Festival Hoa lần thứ 3 sẽ diễn ra từ ngày 1-4/1/2010, với mục tiêu giới thiệu về tiềm năng và thế mạnh về hoa Đà Lạt hiện tại và tương lai, đồng thời tôn vinh nghề trồng hoa và người trồng hoa Đà Lạt.
Đặc biệt, Festival Hoa lần thứ 3 này sẽ có nhiều chương trình mang tính phụ trợ cao, gắn với những đặc trưng riêng về quang cảnh thiên nhiên tươi đẹp, đặc sản phong phú và con người Đà Lạt hiền hòa, thanh lịch.
Theo lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng, Festival Hoa Đà Lạt ngày càng mang lại những lợi ích to lớn về kinh tế, góp phần quảng bá mạnh mẽ hơn nữa về hình ảnh của TP. Đà Lạt với bạn bè trong nước và quốc tế.
Doanh thu từ hoa của Đà Lạt bình quân đạt 300 triệu đồng/ha. Hiện nay, Đà Lạt đang có 3.000 ha hoa xuất khẩu. Hoa Đà Lạt đã có mặt tại các thị trường Nhật Bản, Hà Lan và các nước ASEAN. Doanh thu từ xuất khẩu hoa năm 2008 là 90 triệu USD.
Thông qua Festival này, Đà Lạt sẽ kêu gọi nhiều nhà đầu tư hơn nữa không chỉ ở lĩnh vực trồng hoa, xuất khẩu hoa mà còn cả trong lĩnh vực du lịch, khai thác khoáng sản.
Festival Hoa Đà Lạt 2010, dự kiến thu hút khoảng trên 200.000 lượt khách thăm quan.
Theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ
NGƯỜI TUYẾT
Năm nay rét đậm ở châu Âu
Hoa đăng, NGƯỜI TUYẾT khắp cả châu
Nhưng ở Việt Nam có mới lạ
Tám BẢY CON liền, nó giống nhau
Trông thì to đậm, bụng PHỆ sa
Mặt trông đần thối, nói chẳng ra
Dáng vậy, mà HỒN thì đâu có
Gặp lửa HỒNG, người TUYẾT chảy ra...
* Viết hồi 8:09 AM ngày 23/12/2009 thứ ba, tại 11 PĐC tg Vũ Tản Hồng.
Hôm nay ngày 23/12/2009, bây giờ là 8:31 AM, công ty xổ số đang phát lịch cho đại, tiểu lý đây là đòn đánh vào PTC nhà Sơn ta, mấy năm qua họ ăn tất...Trời hôm nay hửng nắng hàn thử biểu báo 15-21o ấm hơn hôm qua, mình tiếp tục mặc cho bầm áo ấm của Lê Mai Ngọc để lại...MIC đêm hôm qua nằm trông nhà ngoài vườn hoa trước cửa & cổng...
Hôm nay ngày tổng vệ sinh, phát hiện nhiều cái tưởng không thể lại CÓ THỂ như ấm, chén trà của bầm...Lát nữa ra nhà bán mũ xem có cái đẹp mua một cái chơi tết...xong mạnh dạn bóc đi lớp giả da, bên trong lại đẹp hơn nhiều, xin cáo lỗi với hàng mũ nhé... Quảng và Hùng tặng một quyển lịch 2010, cám ơn nhiều...Về bầm MIC nằm đúng chỗ, bầm vui vẻ vì trời ấm lên, ra trao đổi với Tháp và Trung về lịch và sự đổi mới của 2010 đúng là năm Thăng Long ngàn năm tuổi...
Bên 51 Nguyễn Thái Học Giang đang nghỉ phép, chắc là Sơn chuẩn bị có QĐ sang PTC, như vậy hôm qua 22/12/09 như đã làm trước năm nay không họp mặt quân nhân. 9:30 một anh bạn nào đó hỏi...bao giờ chợ Nghệ xây xong, mình trả lời Vinaconec 21 chưa bàn giao...Hai bạn Châu, Dực vào chào và đánh Oto đi chơi...
Gặp rối vì mua nhà của người mắc nợ
Nhà đã mua nhưng lại bị phong tỏa để bảo đảm thi hành án cho người bán.Tiền bảo đảm bao nhiêu thì vừa?
TAND TP.HCM vừa hủy một bản án sơ thẩm của TAND quận 11 do việc chứng minh, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ. Trong vụ này, cấp sơ thẩm đã chấp nhận một văn bản có chữ ký giả mạo để làm căn cứ xét xử.
Bị giả chữ ký
Tháng 4-2008, bà M. đặt cọc hơn 5 tỉ đồng để mua hai căn nhà ở quận 11, TP.HCM của ông C. với giá 7 tỉ đồng. Sau khi hoàn tất các giấy tờ liên quan, hai căn nhà trên đã được đăng bộ với tên bà M.
Bảy tháng sau, bà M. bất ngờ nhận được giấy triệu tập của Tòa án quận 11 yêu cầu bà cung cấp hợp đồng mua bán hai căn nhà trên. Trước đó tòa xác định bà là người có liên quan trong vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa ông C. và hai chủ nợ.
Đến tòa, bà M. được tòa cho xem một biên bản thỏa thuận có chữ ký của bà với cam kết sẽ giúp ông C. làm thủ tục vay ngân hàng để ông này trả nợ cho hai nguyên đơn 2 tỉ đồng.
Cho rằng đây là giấy tờ giả mạo, bà yêu cầu tòa trưng cầu giám định chữ ký. Tuy nhiên, trong một lần hòa giải sau đó, cả hai chủ nợ của ông C. đều khai chữ ký trên không phải của bà M. nên tòa không trưng cầu giám định chữ ký nữa.
Tại phiên sơ thẩm, dù không thừa nhận nợ nần nhưng ông C. khai chữ ký trong biên bản thỏa thuận trên là của mình. Từ đó, tòa đã xem biên bản thỏa thuận này là hợp đồng vay nợ giữa ông C. với hai chủ nợ và buộc ông phải trả cho mỗi người 1 tỉ đồng.
Bị mất nhà
Riêng bà M. chưa kịp mừng vì được minh oan là không có ký kết cam đoan gì thì lại vướng vào một rắc rối khác. Trong vụ án, hai chủ nợ của ông C. cũng đã yêu cầu tòa hủy hợp đồng mua bán nhà giữa ông C. và bà M. Chuyện này tòa nhận định, hợp đồng mua bán một trong hai căn nhà qua công chứng chỉ ghi giá 400 triệu đồng, không phù hợp với giá trị thật (dù bà M. có đầy đủ giấy tờ chứng minh ông C. đã nhận đủ 7 tỉ đồng cho hai căn nhà). Đây là hợp đồng giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ của ông C. nên vô hiệu. Từ đó tòa đồng ý duy trì quyết định khẩn cấp tạm thời phong tỏa một trong hai căn trên để đảm bảo thi hành án. Phía nguyên đơn đã đóng 200 triệu đồng tiền bảo đảm cho yêu cầu này.
Bà M. kháng cáo cho rằng bản án sơ thẩm đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bà bởi bà hoàn toàn không liên quan đến các món nợ của ông C. Bà đã mua nhà ngay tình, không có sự gian dối nào nên đây là tài sản của bà. Tòa hủy hợp đồng mua bán của bà là sai sót phải bị xem xét lại. Chưa kể, căn nhà này bà sở hữu hợp pháp, tòa ra quyết định phong tỏa nhà của bà để đảm bảo cho chuyện thi hành án của ông C. trước khi tòa đem vụ án ra xét xử là sai sót rất nghiêm trọng.
Trong phiên phúc thẩm mới đây, Tòa án TP nhận định cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào chứng cứ duy nhất là biên bản thỏa thuận để buộc ông C. trả nợ trong khi những nội dung khác chưa được điều tra, thu thập đầy đủ là thiếu căn cứ, không đảm bảo được các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Cuối cùng tòa tuyên, do việc chứng minh và thu thập chứng cứ của cấp sơ thẩm chưa được thực hiện đầy đủ mà tòa phúc thẩm không thể bổ sung được nên tòa hủy án, giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết lại... Những yêu cầu kháng cáo khác của bà M. cũng sẽ được xem xét khi vụ án được giải quyết lại từ đầu!
Tiền bảo đảm bao nhiêu thì vừa?
Trong vụ này có một vấn đề pháp lý khác cũng được các chuyên gia quan tâm. Nhiều ý kiến cho rằng tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu áp dụng biện pháp phong tỏa nhà nhưng chỉ buộc nguyên đơn đóng 200 triệu đồng tiền bảo đảm là vi phạm Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Khoản 1 Điều 120 BLTTDS quy định người yêu cầu tòa án áp dụng một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do tòa án ấn định nhưng phải tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền yêu cầu. Trở lại vụ án, số tiền 200 triệu đồng bảo đảm trên so với khoản nợ của ông C. với các nguyên đơn thì chẳng thấm vào đâu!
THANH LƯU
Vài nét lịch sử về cây Noel
VietCatholic News (22 Dec 2009 09:50)
Từ 27 năm nay, các miền khác nhau của nước Italia và của Âu Châu đã thay phiên nhau dâng tặng cây Noel cho Đức Thánh Cha. Được biết Cây Noel năm nay là một loại thông có nguồn gốc từ khu rừng Ardenne, tỉnh Liegi vương quốc Bỉ. Tuổi của nó là hơn 90 năm, chiều cao 30 mét và đường kính của tán lá 7 mét, do vương quốc Bỉ kính tặng Tòa Thánh Vatican. Sau 4 ngày các nghệ nhân, công nhân vận chuyển, dựng lên và trang trí, tối ngày 18 tháng 12 năm 2009, những ngọn đèn điện trên cây Noel tại trung tâm Quảng Trường Thánh Phêrô đã được thắp sáng lung linh. Nhiều khách hành hương đã phải chờ đợi để tận mắt chiêm ngắm Cây Noel này.
Cùng với cây Noel là một hang Belem lớn được làm ngay tại chân cột tháp Obelisco trước Đền Thánh Phêrô. Hang Belem này sẽ mở màn từ ngày 24 tháng 12 đến ngày 2 tháng 2. Đây là nét văn hóa tôn giáo đẹp đẽ đã có từ năm 1982, thời Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Thực ra truyền thống này đã khởi nguồn từ rất xa xưa khi thánh Phanxicô Assisi vào năm 1223 đã làm để diễn tả Mầu Nhiệm Belem. Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI đã theo truyền thống này và Ngài đã nhấn mạnh và xác nhận ý nghĩa giá trị của việc làm hang Belem và cây Noel không chỉ là diễn tả các yếu tố tinh thần tôn giáo mà còn cả các yếu tố văn hóa và nghệ thuật.
Sau dịp Giáng Sinh, cây Noel sẽ được hạ xuống. Phần gỗ sẽ được trao cho các nghệ nhân để chế tác thành những sản phẩm văn hóa và nghệ thuật. Các sản phẩm này sẽ được bán và số tiền thu được Tòa Thánh sẽ đem giúp đỡ những người nghèo. (x.VietCatholic News 20 Dec 2009, Lm. Thiện Tĩnh).
Theo truyền thuyết, ngay từ 2000 đến 1200 trước Công nguyên đã có tục lệ trưng bày cây thông épicéa vào ngày 24 tháng 12, bởi vì người ta xem như ngày này là ngày tái sinh của Mặt trời. Trước đây, người Đông Âu (Celtes) dùng lịch theo chu kì Mặt trăng. Mỗi tháng của năm đều liên kết với một loại cây. Ngày 24 tháng 12 nhắm tiết Đông chí được đặt tên là tùng bách (épicéa). Để làm lễ cho ngày Đông chí, một cây xanh tượng trưng cho sự sống được trang trí bởi trái, hoa và lúa mì.
Năm 354, Giáo hội Công giáo định lễ Giáng Sinh được cử hành ngày 25 tháng 12. Theo dòng thời thời gian cây Noel có một lịch sử hình thành và đến nay nó đã trở thành thân quen mỗi dịp Giáng Sinh về.
Người ta kể lại rằng: thánh đan sĩ Boniface (sinh năm 680) đã phá tục thờ cây cối. Ngài thuyết phục các đạo sĩ người Đức ở vùng Geismar là cây sồi không phải là cây thiêng. Ngài cho hạ một cây sồi. Khi đốn cây, sồi lăn xuống triệt hạ các cây mọc trên triền dốc, chỉ trừ cây thông. Thánh Boniface coi đó là điềm lạ, nên đã thuyết giảng rằng: ‘‘Kể từ nay, ta đặt tên cho cây thông là cây Chúa Hài Đồng’’. Từ đó, người ta trồng cây thông trên khắp nước Đức để mừng lễ Giáng Sinh.
Đến thế kỷ thứ XI, cây Noel được trang hoàng bằng những trái pom đỏ, tượng trưng cho cây thiên đàng. Trên đó người ta treo trái pomme của bà Eva.
Từ thế kỷ thứ XII, cây sapin được xuất hiện tại Âu Châu, vùng Alsace. Người ta gọi “Cây Noel” lần đầu tiên tại Alsace vào năm 1521.
Thế kỷ thứ XIV, người ta trang trí cây thông bằng những trái pomme của bà Eva, kẹo và bánh. Cũng vào thời kì đó, một ngôi sao trên đỉnh cây tượng trưng cho ngôi sao Bethleem bắt đầu được phổ biến. Năm 1560 những người theo đạo Tin Lành phát trển truyền thống cây Noel.
Thế kỷ XII và XIII, các cây sapin chiếu sáng đầu tiên xuất hiện. Người ta dùng những vỏ trái hồ đào (noix) đựng đầy dầu, trên mặt để tim đèn, hay đèn sáp mềm, cột quanh cây thông.
Năm 1738, Marie Leszcynska, vợ vua Louis XV nước Pháp, đã trang hoàng một cây Noel trong lâu đài Versailles.
Tại Alsace-Lorraine, người ta thấy càng ngày càng nhiều cây sapin, nơi đầu tiên có truyền thống này.
Các nước Thuỵ Điển, Đan Mạch, Na Uy thường trang hoàng nhà cửa cây xanh nhân dịp năm mới để xua đuổi ma quỷ. Họ còn dựng cây cho chim trú ngụ trong mùa Giáng Sinh.
Năm 1837, bà công tước Orléans, Hélène de Mecklembourg, gốc người Đức cho người trang hoàng một cây sapin tại điện Tuileries.
Làm lễ Giáng Sinh quanh một cái cây, biểu tượng cho cây trên Thiên Đàng và đủ loại kẹo đã trở thành một truyền thống nhanh chóng bên Đức. Phải chờ đến gần một thế kỷ để truyền thống đó đến mọi gia đình người Pháp, nhất là sau chiến tranh 1870, có hàng ngàn gia đình người Alsace-Lorraine di cư qua Pháp. Chính nhờ thời kì đó mà cả nước Pháp thu nhập truyền thống này.
Đầu thế kỷ thứ 19, Cây Noel được nhập vào nước Anh từ từ và rất được tán thưởng, nhờ ông hoàng Albert, chồng của Nữ hoàng Victoria. Vào thời đó, người ta gọi cây Noel là cây Victorian Tree. Cây Victorian Tree được trang trí bằng đèn sáp, kẹo cùng các thứ bánh treo ở cành cây bằng dây giấy đủ màu.
Cây Noel được thịnh hành nhất vào thế kỉ thứ 19. Cây Noel cũng được những nước Áo, Thuỵ Sỹ, Phần Lan, Hoà Lan tán thưởng trong thời kì này. Hiện nay khắp nơi trên thế giới đều tổ chức lễ Giáng Sinh và chưng cây Noel.
Tương truyền về thánh Boniface kể rằng, một hôm trên đường hành hương, Ngài tình cờ bắt gặp một nhóm những kẻ ngoại đạo sùng bái đang tập trung xunh quanh một cây sồi lớn, dùng một đứa trẻ để tế thần. Để dừng buổi tế thần và cứu đứa trẻ, thánh nhân hạ gục cây sồi chỉ bằng một quả một quả đấm! Tại nơi đó đã mọc lên một cây thông nhỏ. Vị thánh nói với những kẻ ngoại đạo rằng cây thông nhỏ là cây của sự sống và nó tượng trưng cho cuộc sống vĩnh hằng của Chúa Cứu Thế.
Tương truyền, một lần Martin Luther, người sáng lập đạo Tin Lành dạo bước qua những cánh rừng vào một đêm Noel khoảng năm 1500. Trời quang và lạnh. Hàng triệu vì sao lấp lánh qua kẻ lá.Ông thực sự ngỡ ngàng trước một loài cây nhỏ, trên cành cây tuyết trắng phủ đầy, lung linh dưới ánh trăng.Cảnh vật hôm đó đã làm Luther thực sự rung động. Vì thế, khi trở về ông đã đặt một cây thông nhỏ trong nhà và kể lại câu chuyện này với lũ trẻ. Để tái tạo ánh lấp lánh của muôn ngàn ánh sao, ông đã treo nến trên cành cây thông và thắp sáng những ngọn nến ấy với lòng tôn kính ngày Chúa Giáng Sinh.
Một truyền thuyết khác lại kể rằng vào một đêm Noel đã rất lâu rồi, có một người tiều phu đang trên đường trở về nhà thì gặp một đứa trẻ bị lạc và lả đi mặc dù nghèo khó nhưng người tiều phu đã dành lại cho đứa trẻ chút thức ăn ít ỏi của mình và che chở cho nó yên giấc qua đêm. Buổi sáng khi thức dậy, ông nhìn thấy một cái cây đẹp lộng lẫy ngoài cửa. Hóa ra đứa trẻ đói khát tối hôm trước chính là Chúa cải trang. Chúa đã tạo ra cây để thưởng cho lòng nhân đức của người tiểu phu tốt bụng.
Nguồn gốc thực của cây Noel có thể gắn liền với những vở kịch thiên đường. Vào thời thượng cổ, những vở kịch đạo đức được biểu diễn khắp Châu Âu, thông qua các vở kịch ấy người ta có thể truyền bá các bài Kinh Thánh. Những vở kịch nói về nguồn gốc của loài người và sự dại dột của Adam và Eva tại vườn Eden, thường được diễn vào ngày 24 tháng 12 hằng năm. Cây táo là một đạo cụ trong vở kịch, nhưng vì các vở kịch được diễn vào mùa đông, các loài cây đều chưa kết trái nên các diễn viên phải treo các quả táo giả lên cành cây.
Phong tục cây Noel trở nên phổ biến ở Đức vào thế kỉ XVI. Người theo Kitô giáo mang cây xanh vào trong nhà và trang hoàng cho chúng trong dịp lễ Giáng Sinh.
Ở những vùng vắng bóng cây xanh, mọi người tạo ra các đồ vật hình chóp từ gỗ và trang trí cho nó các cành cây xanh và nến. Chẳng bao lâu sau, phong tục cây Noel trở nên phổ biến ở các nước Châu Âu.
Theo một truyền thống của nước Mỹ, một cuộc vui tổ chức xung quanh cây Giáng Sinhvào một đêm lạnh lẽo ở Trenton, New Jersey trong thời gian nội chiến đã làm thay đổi cục diện cuộc chiến.
Những người lính phe liên bang quá nhớ nhà, nhớ những ngọn nến được thắp sáng treo trên các cành cây Thông Giáng Sinh, đã bỏ nơi gác để ăn uống vui vẻ. Washington đã tấn công và đánh bại họ trong đêm đó.
Vào giữa thế kỷ XIX, hoàng tử Albert chồng tương lai của nữ hoàng Victoria ra đời. Chính ông đã phổ biến rộng rãi cây Giáng Sinh vào nước Anh. Năm 1841, đôi vợ chồng hoàng gia này đã trang hoàng cây Giáng Sinh đầu tiên của nước Anh tại lâu đài Windon bằng nến cùng với rất nhiều laọi kẹo, hoa quả và bánh mì gừng. Khi cây Giáng Sinh trở thành thời thượng ở Anh thì những gia đình giàu có đã dùng tất cả những đồ vật quý giá để trang trí cho nó. Vào những năm 1850, theo sự mô tả của đại văn hào Charles Dickens thì cây Giáng Sinh ở Anh được trang hoàng bằng búp bê, những vật dụng nhỏ bé, các thiết bị âm nhạc, đồ trang sức, súng và gươm đồ chơi, hoa quả và bánh kẹo. Sau khi đã tồn tại ở Anh thì phong tục cây Noel cũng trở nên phổ biến trên khắp các vùng thuộc địa của đế chế Anh, tới cả những vùng đất mới như Canada.
Cây Noel đầu tiên được dân chúng ở Mỹ biết đến là vào những năm 1830. Khi hầu hết người dân Mỹ coi cây Giáng Sinh là một điều kì cục thì những người Đức nhập cư ở Pennsylvania thường mang cây Giáng Sinh vào các buổi biểu diễn nhăm tăng thêm tiền quyên góp cho nhà thờ. Năm 1851, một mục sư người Đức đặt một cây Giáng Sinh trước cửa nhà thờ của ông làm cho những người dân xứ đạo ở đó đã bị xúc phạm và buộc ông phải hạ nó xuống. Họ cảm thấy đó là một phong tục ngoại đạo.
Tuy nhiên, vào những năm 1890, nhiều đồ trang trí bắt đầu được nhập từ Đức vào và từ đó tục lệ về cây Giáng Sinh trở nên phổ biến ở Canada và Mỹ. Có một sự khác biệt lớn giữa cây Giáng Sinh của Châu Âu và Bắc Mỹ. Cây của Châu Âu nhỏ, hiếm khi cao hơn 1,5 mét chỉ khoảng 4 -5 feet trong khi cây của Bắc Mỹ cao tới trần nhà.
Năm 1900, cứ 5 gia đình ở Bắc Mỹ thì có một gia đình có cây Giáng Sinh, và hai mươi năm sau phong tục này trở nên khá phổ biến. Vào những năm đầu thế kỉ XX, người dân Bắc Mỹ thường trang trí cây thông bằng đồ trang trí do chính tay họ làm ra. Đồ trang trí truyền thống của người Canada và người Mỹ gốc Đức gồm có quả hạnh nhân, quả hạch, bánh hạnh nhân với nhiều hình dạng thú vị khác nhau. Những hạt bắp chiên nhiều màu sắc, được trang trí cùng những quả phúc bồn tử và các chuỗi hạt. Cũng vào thời gian này bắt đầu xuất hiện những dây đèn trang trí trên cây Giáng Sinh, nhờ nó cây thông rực rỡ hơn nhiều lần. Ánh sáng trang trí bằng đèn điện kéo dài hơn và an toàn hơn rất nhiều so với ánh sáng toả ra từ những ngọn nến.
Mỗi năm khi ngày Giáng Sinh tới, một cây Noel lộng lẫy được đặt tại quảng trường trung tâm Bentall thành phố Vancouver, phía nam British Columbia. Và dân chúng tập trung xung quanh cây Noel đầu tiên vừa được dựng lên và chưa được trang hoàng lộng lẫy kia. Rồi ở cuối thành phố cây thông sáng bỗng bừng lên với muôn vàn ánh đèn đầy màu sắc, cùng lúc đó đội hợp xướng nhà thờ ca vang bài hát mừng lễ Giáng Sinh. Tại ngọn đồi Parliament ở Ottawa, một cây Noel rực rỡ ánh đèn màu được đặt cạnh ngọn đuốc thế kỷ của Cananda cùng với âm vị ngọt ngào của giai điệu Giáng Sinh tuyệt vời từ tháp hoà bình Carillon vang đến (theo thánh nhạc ngày nay số 52).
Trong giờ đọc kinh truyền tin Chúa nhật 19.12.2004, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã diễn giải ý nghĩa cây Noel: ‘‘Ta thường trưng bày bên cạnh máng cỏ một cây thông Giáng sinh, vốn là truyền thống tốt đẹp lâu đời nhằm ngợi ca cuộc sống. Vào mùa đông rét mướt, cây thông vẫn xanh tươi để nói rằng cuộc sống không bao giờ bị hủy diệt. Các quà tặng Giáng sinh được bày dưới gốc cây. Biểu tượng này muốn nói rằng cây Giáng sinh là cây nhân sinh mang hình ảnh Đức Kitô. Đây chính là món quà Thiên Chúa ban cho nhân trần. Thông điệp về cây thông Giáng sinh còn mang ý nghĩa cuộc sống xanh tươi như tặng vật của tình bạn và lòng yêu thương, là sự tương trợ huynh đệ và sự tha thứ, là sự chia sẻ và lắng nghe tha nhân”.
Giáng Sinh đã trở thành một đại lễ của nhân loại. Dù tin hay không tin vào Chúa Giêsu, mọi người đều hân hoan đón đợi và vui tươi mừng lễ.
Giáng Sinh có lẽ là ngày hội lớn duy nhất trên trái đất được đón mừng bởi mọi quốc gia, mọi sắc tộc, mọi tầng lớp xã hội. Từ núi cao, trong rừng sâu, xuống đồng bằng, vào thị tứ giầu sang….Qua đủ mọi hình thức: Hang đá máng cỏ, cây Noel, nhóm vài cây củi trên rừng, thắp ngọn nến đơn sơ trong ngôi nhà thờ bé nhỏ nghèo nàn vùng quê hẻo lánh, hay trăm ngàn ánh đèn muôn mầu rực rỡ chốn đô hội văn minh tráng lệ, khắp nơi đón mừng và cùng hát lên tâm tình:
"Vinh danh Thiên Chúa trên trời.
Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương" (Lc 2,14).
Giáng sinh đang về trên khắp mọi nơi trần thế.Hang Đá Máng Cỏ, Cây Noel đã trở nên một nét đẹp của “lễ hội văn hóa Giáng Sinh”. Bình an và niềm vui tràn đầy trong tâm hồn mỗi người.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP, ÔNG THÀY DẠY SỬ
Dương Trung Quốc
-Bách khoa toàn thư của Mỹ khi nói về quân hàm của Ông luôn viết rằng: Võ Nguyên Giáp là “Đại tướng 5 sao” để nói đến một phẩm hàm tột đỉnh, mặc dù trên vai Ông luôn luôn là quân hàm mang 4 ngôi sao 5 cánh như nhiều vị đại tuớng Việt Nam khác. Giới sử học VN tự hào có một vị Tổng tư lệnh là Chủ tịch Hội nghề nghiệp của mình.
Lúc còn trẻ, tôi được xem bộ phim “Ngôi sao thành Êghe”, trong đó có hình ảnh một nhà chép sử dũng cảm và tận tuỵ đứng giữa bãi chiến trường khốc liệt để ghi chép lại những gì đang diễn ra. Quân tướng hai bên giáp lá cà chém giết lẫn nhau, nhưng dường như vẫn né mũi gươm đường đạn để nhà chép sử làm bổn phận của mình… Chính hình ảnh ấy gây cho tôi lòng hào hứng dấn thân vào nghề rồi thành cái nghiệp sử học cho đến nay vẫn đeo đuổi.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Và cái hình ảnh người chép sử ấy cho đến nay luôn đến với tôi mỗi khi có dịp gặp “Anh Văn” - Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Tôi chỉ có cơ hội gặp Ông kể từ khi vị Đại tướng của chúng ta đảm nhận những trách nhiệm dân sự. Ông là Phó Thủ tướng phụ trách công tác Văn hoá và Khoa học Kỹ thuật. Lần đầu tôi được gần Ông là thời điểm chuẩn bị cho chuyến đi thăm Ấn Độ của một đoàn đại biểu Việt Nam do Đại tướng dẫn đầu. Tôi được cơ quan Viện Sử học phân công làm công tác tư liệu cho bài diễn văn của Ông.
Đối với tôi, đó là một vinh dự lớn vì truớc đó, Ông còn là một hình ảnh ở rất cao cao và quá xa xa… Nhưng khoảng cách đó nhanh chóng thu hẹp chính nhờ sự cúi xuống của một Ông Thầy đối với một học trò nhỏ. Ông cho phép tôi nhập vai để viết thử một bài diễn văn. Rồi Ông có những lời động viên vừa phải. Đương nhiên, tôi chẳng góp được bao nhiêu nhưng lại học được rất nhiều điều ở Ông. Trong chuyến đi Ấn Độ ấy, tôi nhớ Ông có một bài phát biểu rất hay về Bác Hồ...
Kể từ khi tôi tham gia công tác của Hội Sử học VN, tôi càng có nhiều cơ hội gặp Ông và càng bị Ông cuốn hút không phải chỉ ở một sự nghiệp quá đồ sộ của một nhà cách mạng, một vị Tổng tư lệnh mà còn ở một phẩm cách của một nhà sử học lớn. Ông kể cho tôi một đôi ký ức thời trai trẻ rồi đọc thuộc lòng.những vần thơ hừng hực chí khí yêu nước của Phan Bội Châu.
Ông kể lại những kỷ niệm về các nhân vật lịch sử mà ông từng tiếp xúc như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Trần Huy Liệu, ông đọc thuộc từng bài trong sách giáo khoa thư đã nhen nhóm trong lòng Ông những bài học đầu tiên dạy làm người và lòng yêu nước. Rồi những bài học lịch sử trên bục giảng ở trường tư thục Thăng Long…
Ông muốn nói rằng, lịch sử là tri thức tạo nên tư cách của một con người có ý thức về xã hội. Năm 1998, ông cho phép tôi được có mặt trong buổi Ông cùng gia đình tiếp con trai cố Tổng thống Mỹ J.Kennedy. Hôm đó tôi thực sự nhận ra phong cách của một ông thầy dạy sử.
Chậm rãi và mạch lạc, Ông nói với anh bạn trẻ mà tuổi tác cách Ông đúng một nửa thế kỷ về lịch sử mối quan hệ Việt - Mỹ. Ông nói về những mối giao lưu đầu tiên giữa hai xứ sở cách nhau một đaị dương, mà vị Tổng thống Hoa Kỳ từng là người khởi thảo Tuyên ngôn Độc lập Mỹ đã say mê các giống lúa ở Đàng Trong của Đại Việt, đến mối quan hệ Việt - Mỹ khi còn là đồng minh chống phát xít Nhật.
Ông chỉ tấm ảnh chụp chung với Bác Hồ treo trên tường nhà mình mà nói rằng: “Tấm ảnh kia mấy người bạn đồng minh Mỹ chụp cho tôi”… Hàm ý vị Đại tướng đánh bại quân xâm lược Mỹ muốn nói với những người Mỹ trẻ tuổi rằng, quan hệ giữa hai nước không chỉ có những trang sử đen tối của chiến tranh, và trang sử đang được viết tiếp phải là những trang sử tốt đẹp như một thời là Đồng minh cùng chung sức đánh phát xít mà chính ông là “người trong cuộc”.
Anh con trai của cố Tổng thống Kennedy rất cảm động khi nghe vị Đại tướng gợi lại hình ảnh khi cậu ta mới 4 tuổi đã dự đám tang cha của mình bị ám sát, và anh ta nói rằng, những gì nhận được sau chuyến đi thăm VN và đặc biệt là trong buổi gặp Đại tướng sẽ rất có ích cho bước đường sắp tới khi anh ta dự định bắt đầu bước vào chính truờng…(Rất tiếc, không lâu sau, anh đã chết trong một tai nạn máy bay).
Tôi cũng được quan sát từ khoảng cách rất gần 2 cuộc tiếp kiến giữa Đại tướng với Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namara ở Hà Nội (1995 và 1997). Chính ông đã khéo léo bố trí để tôi có mặt trong những cuộc tiếp xúc còn rất hẹp này... Tính thuyết phục của vị Đại tướng Việt Nam đối với một nhân vật mà nước Mỹ từng tôn sùng là một “bộ óc điện tử” chính là trọng lượng của những bằng chứng lịch sử đanh thép và thấm thía. Ông không quên từng chi tiết nhưng luôn đặt mọi lý lẽ của mình khớp với những gì lịch sử đã lên tiếng.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Cố Bộ trưởng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namara. Ảnh AFP
Khi nói chuyện với chúng tôi, những người làm công tác sử học hay đặc biệt là với giới trẻ, Ông rất hay nhắc đến câu diễn ca mộc mạc của Bác Hồ: Dân ta phải biết sử ta…”.
Ông kể rằng, đứng trước khả năng phải bắt buộc cầm súng đánh thực dân, Bác Hồ sai người đi tìm cuốn “Việt Nam sử lược” của Lệ thần Trần Trọng Kim, khi đó là cuốn sách duy nhất biên soạn mạch lạc về lịch sử nước nhà để cho trao các vị lãnh đạo cuộc kháng chiến đọc. Không chỉ chí khí của người xưa, mà nhiều bài học về cách đánh và cách thắng của ông cha chúng ta đem lại những tri thức rất bổ ích cho cuộc chiến đấu ở thế kỷ XX.
Chắc chắn, Võ Nguyên Giáp sẽ là người giật giải quán quân về viết hồi ức lịch sử. Khác với nhiều nhà hoạt động cách mạng khác, khi buông dần những công việc chính trường, Ông thực sự giành tâm lực cho việc tổng kết lịch sử và lấy chính trải nghiệm của mình để tìm ra những bài học.
Không kể tới những công trình chính luận đóng góp vào tổng kết sự nghiệp cách mạng mà Ông là một yếu nhân, đặc biệt là tổng kết chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc mà Ông là Tổng tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp giành rất nhiều công sức để viết hồi ức của mình, điều mà mọi chính khách hiện đại đều làm. Nhưng khác mọi người, Ông viết hồi ức với tất cả các tình tiết riêng tư, kể cả những rung động tình cảm của mình nhưng lại để nói đến cả một dân tộc, một thời đại và một con người mà Ông luôn coi là người Thầy vĩ đại của mình: Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Viết lịch sử hay hồi ức Ông đều luôn đặt lên hàng đầu tính trung thực. Ông có cả một “bộ tham mưu” là những người hoạt động khoa học và thực tiễn trong và ngoài quân đội sẵn sàng tham góp ý kiến, sưu tập tư liệu cho Ông. Một tinh thần tập thể cao cộng với một trí tuệ lớn lại luôn cầu thị của Ông làm cho các tác phẩm ký tên Ông trở thành những công trình hoàn chỉnh và có phong cách không trộn lẫn.
Viết sử, Ông luôn luôn lấy sự đoàn kết là mục tiêu như chính trong thực tiễn cách mang. Tôi không quên một kỷ niêm: những chương đầu của cuốn sách “Tổng hành dinh…” được Ông cho phép đăng trên Tạp chí Xưa Nay của Hội Sử học VN (1995) trước khi sách công bố 5 năm.
Ở chương kết thúc, Ông điểm không thiếu một ai đã tham gia vào sự kiện lớn của lịch sử. Ông rất hài lòng khi chúng tôi chọn một tấm ảnh minh hoạ là lúc Tổng Tư lệnh chia tay Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng lên đường vào chiến trường. Hình ảnh hai vị tướng thân mật đứng bên một cây đào đang nở hoa làm Ông rất hài lòng.
Sau này khi sách in, Ông cũng tìm đúng tấm ảnh ấy dường như muốn nói lên một điều gì đó…Tấm ảnh Ông và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh ngồi trước tấm bản đồ trải rộng dưới đất trong căn phòng nhà mình để cùng nhau trao đổi ý kiến cũng được Ông tâm đắc dùng trong sách...
“Từ nhân dân mà ra”, “Những năm tháng không thể nào quên”,”Chiến đấu giữa vòng vây”. “Điểm hẹn Điện Biên”… cho đến “Tổng hành dinh trong Mùa Xuân đại thắng” là gần trọn vẹn cả đời Ông. Từ Điện Biên (1954) đến Đại thắng Mùa Xuân (1975) còn một khoảng trống mà Ông sẽ phải lấp đầy.
Cộng với những tác phẩm mang tính tổng kết về Chiến thắng Điện Biên Phủ và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một tác gia kiệt xuất đã để lại một di sản thực sự là đồ sộ về thế kỷ XX hào hùng đầy thử thách. Nếu nói Ông là một trong những nhà sử học lớn nhất của thế kỷ XX là hoàn toàn xác đáng. Và với những trước tác của mình, Ông hoàn toàn xứng đáng nhận được Giải thưởng Hồ Chí Minh cả trên lĩnh vực sử học, văn học hay lý luận quân sự (nhưng đang tiếc lại chưa thành hiện thực ?).
Người nước ngoài khi đánh giá về Đại tướng Võ Nguyên Giáp thường so sánh Ông với những nhân vật lớn trong lịch sử nhân loại, đặc biệt là lịch sử chiến tranh. Họ có sự tinh tế mà ít khi ta chú ý tới, ví như Bách khoa toàn thư của Mỹ khi nói về quân hàm của Ông luôn viết rằng Võ Nguyên Giáp là “Đại tướng 5 sao” để nói đến một phẩm hàm tột đỉnh, mặc dù trên vai Ông luôn luôn là quân hàm mang 4 ngôi sao 5 cánh như nhiều vị đại tuớng Việt Nam khác. Giới sử học VN tự hào có một vị Tổng tư lệnh là Chủ tịch Hội nghề nghiệp của mình.
Dương Trung Quốc
Nguồn http://www.baomoi.com/Home/DoiNoi-DoiNgoai/bee.net.vn/Dai-tuong-Vo-Nguyen-Giap-ong-thay-day-su/3648575.epi
Thứ 4 ngày 23/12/2009
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét